Đầu tư, xây dựng, nâng cấp và bảo vệ đê điều đóng một vai trò quan trọng trong công tác phòng chống lụt bão. Vây thì hiện nay, những chính sách về đê điều đã và đang được thực hiện như thế nào và hệ thống đê điều đã đáp ứng được yêu cầu của công tác phòng chống lụt bão trong bối cảnh thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp hay chưa?
Tổng chiều dài
đê của nước ta là hơn 13.200 km đê, trong đó có 10.600 km đê sông, 2600 km đê
biển và 2500 đê đặc biệt. Để đáp ứng
việc phòng chống lụt bão, các tuyến đê này đều cần phải tu bổ, nâng cấp. Tuy
nhiên, công tác đầu tư, xây dựng và tu bổ, nâng cấp đê điều nhiều địa phương
đều đang phải gặp rất nhiều khó khăn.
Thiếu kinh phí cho công tác đê điều
Với 24 tuyến đê
dài 240 km, Hải phòng là địa phương có chiều dài đê sông và đê biển lớn thứ hai
trong cả nước. Tất cả 24 tuyến đê này đều có những điểm xung yếu cần phải tu bổ
gia cố hàng năm. Tuy nhiên, công tác này đang phải triển khai cầm chừng do thiếu
vốn đầu tư.
Tuyến đê Tả Lạch
Chay là tuyến đê sông suy yếu cần được đầu tư cấp bách nhất tại Hải Phòng. Đầu
năm ngoái, nguồn ngân sách trung ương và thành phố đã duyệt đầu tư 400 tỷ đồng
cho tuyến đê này. Nhưng đến giữa năm nay, công tác đầu tư chỉ dừng lại ở lập dự
án và thiết kế kỹ thuật do ngân sách chỉ duyệt chi 4 tỷ đồng.

Tuyến đê xung yếu ở Hải Phòng
Ông Lê Văn Hiến,
Phó GĐ Sở NN-PTNN Hải Phòng cho biết: “Ngân
sách của Bộ và thành phố đã chú ý đầu tư nhưng do nguồn kinh phí còn hạn hẹp
nên nhiều tuyến đê xung yếu, đặc biệt là cống dưới đê bị xung yếu và một số
tuyến đê biển cũng chưa được đầu tư. Công tác tu bổ vẫn chưa ngang tầm với hệ
thống tu bổ đê điều trong mùa mưa bão.”
Sự chậm trễ này
làm công tác phòng chống lụt bão ở Hải Phòng trong năm nay và những năm sau gặp
rất nhiều khó khăn.
Theo ông Trần
Quang Hoài, Cục trưởng Cục Quản lý Đê điều và PCLB, không chỉ ở Hải Phòng,
thiếu kinh phí trong công tác xây dựng, tu bổ, nâng cấp đê là tình trạng chung
ở hầu hết các địa phương có đê ở nước ta.
Chính phủ đã phê
duyệt hai chương trình lớn, thứ nhất là chương trình nâng cấp đê biển, từ Quảng
Ninh đến Quảng Nam và Quảng Ngãi đến Kiên Giang. Thứ hai là chương trình nâng
cấp đê sông tại 19 tỉnh có đê được phân cấp, với tổng kinh phí là hơn 50 nghìn
tỷ, kéo dài từ nay đến năm 2020.
Với tình trạng
hệ thống đê điều như hiện nay thì mức kinh phí tập trung cho công tác tu bổ,
nâng cấp đê điều chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Ví dụ như tuyến đê biển từ
Quảng Ninh đến Quảng Nam, chúng ta hiện nay mới chỉ đạt 30% kinh phí, trong khi
đúng theo kế hoạch thì hết năm 2010 phải hoàn thành chương trình này

Hải Phòng có 110 km đê biển cần được nâng cấp
Ngoài những
chương trình Dự án nâng cấp đê sông, đê biển này thì hàng năm, chính phủ có các
chương trình duy tu, bảo dưỡng cũng như là tu bổ đê điều thường xuyên với mức
kinh phí là trên dưới là 200 tỷ. Với tổng chiều dài đê của nước ta lớn như vậy
thì mức kinh phí này là chưa đáp ứng được yêu cầu.
Hiện nay, hệ
thống đê điều của nước ta chỉ chống chịu được bão cấp 9, với tần suất mức thủy
triều tối đa là 5%. Điều này cũng là do nguồn kinh phí hạn hẹp.
Ông Hoài cho
biết: “ Nguyên nhân của tình trạng thiếu
kinh phí cho các công tác xây dựng, tu bổ, nâng cấp hệ thống đê điều chủ yếu do các điều kiện khách quan. Do điều kiện
kinh tế của ta chịu tác động của kinh tế thế giới và của thiên tai. Nhất là
2009, 2010, chúng ta chịu thiên tai rất lớn, nên đầu tư nguồn kinh phí lớn vào
khôi phục sản xuất, khôi phục cơ sở hạ tầng ở miền Trung. Điều này đã ảnh hưởng
đến việc bố trí kinh phi vào công tác đê điều."
Bên cạnh vấn đề thiếu kinh phí thì những vướng mắc trong khâu giải phóng mặt bằng
cũng là một nguyên nhân quan trọng khiến không ít dự án nâng cấp, tu bổ các
tuyến đê trọng yếu đang bị chậm tiến độ.
Khó khăn trong giải phóng mặt bằng
1 km trong tổng
số hơn 4 km của tuyến đê biển số 7, chạy qua địa phận xã Thái Thượng, huyện Thái
Thụy, tỉnh Thái Bình từ năm 2008 tới nay vẫn chưa được thi công. Các loại vật
liệu đã được tập kết, nhưng đành để đống cho cỏ mọc um tùm. Còn nhà quản lý
công trình thì đã đóng cửa gần 3 năm nay.

Vật liệu dùng để xây tuyến đê biển số 7 ở xã Thái Thượng
Theo những người
dân ở đây, thì do tuyến đê này quy hoạch đi qua khu dân cư, nên phải thực hiện
đền bù đất nông nghiệp. Tuy nhiên do chưa thỏa thuận được giá đền bù, nên tuyến
đê không thể được xây dựng.
Hiện nay, các dự
án đầu tư xây dựng cơ bản chậm trễ hầu như là do khó khăn trong giải phóng mặt
bằng. Theo ông Hoài, do chỉ trong những năm gần đây, chúng ta mới tiến hành rà
soát quy hoạch hệ thống đê điều. Vì vậy, nhiều tuyến đê điều đi qua khu dân cư,
thậm chí đê còn lấn vào khu dân cư. Khi người dân không đồng ý thỏa thuận thì
việc giải phóng mặt bằng gặp rất nhiều khó khăn.
Ngoài ra, nhiều
địa phương cấp sổ đỏ tận vào trong hành lang chỉ giới bảo vệ đê, nên gây khó
khăn trong công tác tu bổ, nâng cấp đê điều.
Bên cạnh việc
thiếu kinh phí, thiếu mặt bằng thì khâu thiết kế, thi công các tuyến đê còn tồn
tại nhiều vấn đề. Theo ông Hoài, trước
hết là do đơn vị tư vấn để thiết kế chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu. Còn về
vấn đề thi công thì nhiều nhà thầu ở các địa phương chưa thi công được những
công trình đủ chất lượng.
Hành lang bảo vệ đê bị xâm phạm
Trong khi tiến
độ nâng cấp, tu bổ nhiều tuyến đê diễn ra chậm chạp thì không ít tuyến đê hiện
nay lại đang tiếp tục xuống cấp vì hành lang bảo vệ đê bị xâm phạm một cách
nghiêm trọng.
Từ khi có Luật
đê điều được ban hành đến nay, từ 1/7/2007, thống kê có 5934 vụ vi phạm ở 19
tỉnh thành phố có đê cấp 3. Trong đó chỉ xử lý được một số lượng rất khiêm tốn
là 831 vụ, còn số còn lại 5103 vụ.Tại điều 43 và
39 của Luật đê điều đã ghi rất rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực
lượng chuyên trách trong khi lập biên bản, xử lý vi phạm đê điều.

Đoạn đê bị xuống cấp ở xã Chân Lý, Lý Nhân, Hà Nam
Qua kiểm tra của
Cục Quản lý Đê điều và PCLB thì hầu hết các lực lượng chuyên trách đã lập biên
bản, báo cáo cho các cấp chính quyền. Nhưng các đơn vi được báo cáo chưa làm
tròn trách nhiệm giải tỏa, cưỡng chế, chấm dứt vi phạm đó.
Việc đầu tư, xây
dựng, nâng cấp đê điều còn gặp nhiều khó khăn. Nhưng thiếu kinh phí là vấn đề
nòng cốt nhất. Trước thực trạng đó, Bộ
NN&PTNN có chủ trương đầu tư trọng điểm, không dàn trải và kêu gọi xã hội
hóa.
Qua trao đổi với
phóng viên VTC16, ông Hòai cho biết rõ thêm về vấn đề này: “Với khối lượng công trình lớn và nguồn kinh phí như hiện nay, nếu mà
chỉ trông chờ vào ngân sách tập trung của chính phủ và nguồn vốn ODA thì sẽ rất
khó cho chúng ta đáp ứng được yêu cầu tiến độ. Chính vì vậy, chúng ta rất cần
xã hội hóa để vừa đáp ứng được yêu cầu phòng chống lụt bão vừa phát huy được
những nguồn lực hiện có.”

PV VTC16 trao đổi với ông Hoài( bên phải)
Ông Hoài cũng
cho biết thêm, như hiện nay, các địa phương đang khẩn trương xây dựng quy hoạch
chi tiết phòng chống lũ các tuyến sông qua đê, sau đó thỏa thuận với Bộ NN&PTNN
để xác định hành lang thoát lũ trong lòng lũ đến đâu. Ngoài ra, diện tích còn
lại, các địa phương có thể khai thác cho vào các mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội khác. Với những quỹ đất này, nếu đưa vào khai thác sử dụng để có thêm nguồn
lực cho tu bổ, nâng cấp đê điều cũng như quy hoạch lại hàng lang thoát lũ thì
đây là nội dung công việc rất tốt, cần triển khai thực hiện.
Trong bối cảnh
hiện nay, khi mà thời tiết ngày càng diễn biến thất thường, khi mà những tác
động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng ngày càng trở nên rõ rệt thì việc
xây dựng, nâng cấp và bảo vệ đê điều càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Những văn bản, chính
sách về vấn đề này đề đã được ban hành. Vấn đề còn lại chỉ là tổ chức thực
hiện. Đó không chỉ là trách nhiệm của Chính phủ, ngành nông nghiệp hay chính
quyền các địa phương… mà còn là trách
nhiệm của mỗi người dân.
Phương Thanh- Văn Dương- Thành Hưng