Nhiều người dân ở vùng cao có thể vươn lên thoát nghèo nhờ nuôi gà xương đen. Nhưng hiện nay, giống gà này đang dần bị giảm về số lượng và cả về bảo tồn nguồn gen. Trước thực tế đó, việc bảo tồn và phát triển quỹ gà xương đen là một việc làm ý nghĩa trong việc nâng cao thương hiệu và giá trị các giống vật nuôi bản địa ở nước ta.
Gà xương đen có đặc điểm
chính là da đen, thịt đen xương đen. Về hình thức, chúng có nhiều màu lông khác
nhau là màu đen, màu trắng và màu hỗn hợp, trong đó màu đen là nhiều nhất. Màu da chân và màu của mỏ cũng có hai nhóm:
nhóm màu đen và nhóm màu vàng, trong đó nhóm màu đen cũng chiếm tỷ lệ cao trên
90%. Đây vốn là giống gà truyền thống của đồng bào dân tộc H’Mông vùng
cao Yên Bái, có giá bán cao hơn gấp đôi so với gà ta thả vườn.
Giống gà bản địa này chủ yếu nuôi ở những vùng núi cao. Do được chăn thả
theo lối bán hoang dã, vận động nhiều nên gà chắc thịt, thơm ngon.

Không chỉ là một loại thực phẩm có chất lượng mà gà xương đen còn được
biết đến là một vị thuốc quý. “Do hàm
lượng colecteron ở gà xương đen thấp nên dành cho những người bị bệnh tim rất là
tốt. Đó là thịt, còn về xương, đối với nhiều đồng bào dân tộc thì thường dùng
để ngâm rượu hoặc nấu cao. Nấu rượu hoặc nấu cao như thế thì cho những người
già, hoặc những người có biểu hiện tay chân run thì đều rất tốt. Và mật của gà
xương đen điều trị ho cho trẻ em cũng rất tốt”- PGS-TS Phạm Ngọc Thạch, ĐH
Nông nghiệp Hà Nội cho biết.
Mặc dù có chất
lượng ngon, giá trị kinh tế cao hơn hẳn so với nuôi các giống gà khác nhưng thực
tế sản xuất gà xương đen tại vùng bản địa lại đang giảm dần. Những khu vực bắt
nguồn giống gà này như huyện Mù Cang Chải, huyện Trạm Tấu, Yên Bái thì việc sản
xuất đang có xu hướng bị mai một. Nguyên nhân chủ yếu là do tập quán canh tác
lạc hậu của người dân.
Giống gà bản địa
này chủ yếu nuôi ở những vùng núi cao. Hình thức chăn nuôi mang tính quảng canh, sinh sản tự nhiên
nên gà thường tự tìm ổ đẻ trứng tại các bờ bụi, gốc cây, gốc tre, tỉ lệ hao hụt
trứng và tỉ lệ trứng được ấp nở rất ít. Hiện tượng gà thả tự nhiên, giao phối
tự nhiên cận huyết khiến chất lượng giống giảm. Hiện nay có rất nhiều giống gà
mới được đưa vào sản xuất, khiến cho người chăn nuôi bị thu hút nên bỏ dần các
giống gà địa phương. Bà con thường nuôi thả với rất nhiều giống gà khác cho nên
rất dễ bị lai tạp giống.

Theo cách nuôi truyền thống, gà tự tìm ổ đẻ nên tỉ lệ trứng nở thành con thấp
Trước thực tế đó, việc bảo tồn và phát triển giống gà này
nhằm lưu giữ nguồn gen cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế được nhiều cấp ngành
quan tâm. Nghiên cứu gà của
đồng bào H’ Mong không những bảo tồn và mở rộng được phạm vi phân bố của giống
mà còn là cơ sở để so sánh với các giống nội khác và đáp ứng nhu cầu thị trường
về việc sử dụng các giống nội đang ngày một tăng. Từ đó, hướng tới xây dựng
thương hiệu “gà của dân tộc H' Mong” hay “gà Rừng” Yên Bái, sẽ góp phần tích cực
để xoá đói, giảm nghèo cho các hộ nông dân ở vùng cao.
Anh Đinh
Ngọc Tiến, Phó phòng Quản lý khoa học- Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái
cho biết: “ Trước thực trạng giống
gà xương đen của dân tộc H’Mong đang bị thoái hóa và tạp chất, mất dần đi nguồn
gen, những đặc tính quý giống gà, tỉnh Yên Bái đã triển khai đề tài Bảo tồn và
phát triển quỹ nguồn gen của người H’Mong ở huyện Mù Cang Chải.”
Theo PGS TS Phạm
Ngọc Thạch, Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội, người trực tiếp xây dựng và triển
khai dự án Bảo tồn và phát triển nguồn gen giống gà xương đen, thịt đen trên
địa bàn Yên Bái thì thực tế sản xuất giống gà này đang ở mức báo động.

PGS- TS Phạm Ngọc Thanh chia sẻ với phóng viên VTC16 về đặc điểm của gà xương đen
Để thực hiện dự án, trước hết là việc phổ biến kiến thức, quy
trình kỹ thuật chăn nuôi khoa học để bà con nắm bắt. Những kiến thức chăn nuôi
mà trước đây đồng bào dân tộc ít quan tâm tới. “Trước đây bà con cho gà đẻ tự do, như vậy tỉ lệ đẻ trứng và trứng nở
thành con thấp. Vì vậy, chúng tôi đã hướng dẫn cho bà con làm ổ đẻ thì số lượng
trứng nở thành con sẽ cao gấp hơn rất nhiều lần.”- PGS-TS Phạm Ngọc Thạch
nói.
Để bắt đầu công việc bảo
tồn, PGS TS Phạm Ngọc Thạch cùng nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát
thực địa tại huyện Mù Cang
Chải, một huyện có số đồng bào
dân tộc H' Mong sinh sống nhiều nhất và là vùng nuôi gà xương đen nhiều nhất tỉnh Yên Bái. Việc khảo sát nhằm đánh giá được sự phân bố, số lượng, đặc điểm ngoại hình,
chất lượng thịt, trứng và máu gà của
giống gà địa phương này để từ đó có thể làm tăng khả năng sinh sản của
giống, tăng năng suất chất lượng thịt và đưa ra phác đồ phòng trị bệnh xuất
hiện ở gà xương đen. Từ đó sẽ định hướng xây dựng các mô hình làm cơ sở nhân và
giữ giống tại địa phương.
Anh Hà Tùng Dương là một trong những người thực hiện mô hình nuôi gà
xương đen theo hướng hàng hóa. Anh cho biết giống gà này có nhiều ưu điểm, giá
bán cao hơn gấp đôi so với gà ta thả vườn. Đặc biệt, gà xương đen có sức kháng
bệnh tốt nên đàn gà của anh không bị
nhiễm bất cứ dịch bệnh gì.

Ít bị nhiễm bệnh nên anh Dương không mất nhiều chi phí nuôi gà xương đen
Anh Dương nói: “Đặc điểm giúp gà này kháng bệnh tốt nhất là
tính hoang dã vì nuôi ở đồng bào họ không hề tiêm phòng gì cả cứ thả nó vào
rừng tối nó ngủ trên các cành cây cho nên nó rất khỏe đến giờ tôi nuôi 3 năm,
từ lúc nuôi 1 ít rôi tôi nhân lên đến giờ thì chưa gặp phải bệnh gì ghê gớm cả.”
Tại
Yên Bái, những mô hình nuôi gà xương đen như gia đình anh Dương đang ngày càng
nhiều. Việc bảo tồn nhân rộng quỹ gen giống gà này có nhiều ý nghĩa đối với
ngành chăn nuôi trên địa bàn.
Có thể khẳng
định rằng, việc bảo tồn và phát triển giống gà xương đen của dân tộc H' Mong tại vùng cao là
một việc làm cấp bách nhằm phát huy thế mạnh của từng địa phương. Mặt khác với
tập quán và điều kiện thực tế tại đây chưa thể phát triển chăn nuôi gà thịt
theo hướng hàng hóa, cho nên cũng không thể lai tạo các giống gà chất lượng cao
với giống gà địa phương. Do vậy, việc chọn lọc nhân thuần giống gà địa phương
là giải pháp phù hợp.
Đối với công tác bảo tồn quỹ gen giống gà xương đen này, có thể áp dụng
phương pháp bảo tồn nguyên vị. Đây là hình thức bảo tồn ngay tại vùng sản xuất.
Ngoài ra có thể di chuyển qua những vùng có điều kiện địa hình, khí hậu, tập
quán canh tác tương ứng thích hợp để mở rộng phạm vi bảo tồn. Hoặc cũng có thể
lai tạo với một số giống bản địa khác để cải tạo giống mà không bị lai tạp
nguồn gen.
Tuy nhiên để giống gà xương đen
thích nghi và phát triển, việc phổ biến kĩ thuật chăn nuôi theo cách cầm tay
chỉ việc cho đồng bào nơi đây là cần thiết. Về lâu dài cần phải xây dựng một kế
hoạch tổng thể phát triển chăn nuôi gà xương đen. Bảo tồn sẽ không chỉ dừng lại
ở việc đánh giá sự đa dạng di truyền mà còn tiến tới nâng cao thương hiệu và
giá trị các giống vật nuôi bản địa ở nước ta.
Thanh Tâm
toi ten la nguyen van phien.hien toi tru tai khu4 tt locthang,baolam,lamdong.
toi muon hoi :hien nay toi nuoi 20 con nhim.toi chia 2con mot chuong.tat ca cac chuong khac thi ko sao,rieng co mot chuong 2con lai can long cua nhau.khau phan an cua nhim toi cho an giong nhau.vay toi muon hoi xem la hien tuong nay co gi bat binh thuong ko.nho vtc16 giup do.
toi xin chan thanh cam on
Hiện tượng nhím cắn lông nhau là do nhím chưa đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt là canxi.
Cách phòng và trị hiện tượng này, bà con cho nhím ăn nhiều rau xanh, rau dền là tốt nhất. Ngoài ra cũng
phải cho ăn thêm xương bò, xương lợn (đã được nấu chín, có thể ra các quán phở để xin hoặc mua lại xương đã nấu)
Chúc thành công!
Chúc thành công!
Trân trọng cảm ơn!