Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Linh hồn sử thi Tây Nguyên
14/11/2011
Khi nhắc đến sử thi Tây Nguyên, cả thời đại của một cộng đồng người như sống dậy, ẩn chứa trong đó là tiếng vọng từ tâm thức của đồng bào, từ buổi sơ khai. Sử thi như một cái đinh khẳng định dấu ấn lịch sử của cả một quá trình trải nghiệm của cả một dân tộc, họ đã chiến đấu, họ đã bảo vệ mảnh đất đó, họ đã sinh sôi nảy nở trên mảnh đất đó như thế nào.

Báu vật sống của cộng đồng người Tây Nguyên

Hơn 70 năm trước đây, Khan Đam San của người Ê Đê là sử thi đầu tiên được cả thế giới biết đến do người Pháp sưu tầm và công bố. Rồi lần lượt Sử thi của người Ba Na, Gia Rai, M’Nông … cũng dần được phát hiện.

Mỗi dân tộc Tây Nguyên có một cách gọi riêng dành cho thể loại hát kể sử thi. Người Ê Đê gọi là Khan. Người Ba Na gọi là Hơmôn, Người Giarai gọi là Hơri, và người M’Nông gọi là Ot Nrông. Với người Ê Đê, người nào thuộc nhiều Khan được gọi là Pô Khan (tức là Chủ Khan). Những dân tộc khác không có tên gọi chung như vậy.

Trong cộng đồng, người thuộc nhiều sử thi được một phần thưởng rất vô giá, đó chính là lòng tin yêu và sự kính phục của cộng đồng, ngoài ra, không còn một quyền lợi nào khác.

                             

                    Sử thi đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng của đồng bào Tây Nguyên

Đánh giá chung về vai trò của sử thi trong đời sống sinh hoạt cộng đồng của đồng bào Tây Nguyên, ông Bùi Trọng Hiền, chuyên gia nghiên cứu văn hóa cho biết: “Nó là một sinh hoạt văn hóa nghệ thuật và hoàn toàn mang tính cộng đồng rất cao. Mỗi lần người ta sống trong cuộc hát kể đó, như bảo tồn gen văn hóa cho những thành viên của cộng đồng, dù người ta đi đến đâu cũng nhớ về cội nguồn thì sử thi có tác dụng giáo dục cực kỳ lớn."

Nguy cơ biến mất sử thi Tây Nguyên

Tuy nhiên, khi phát hiển ra sử thi cổ sơ của các dân tộc sống ở Tây Nguyên, thì sử thi cũng đang đứng trước nguy cơ bị biến mất, thất truyền. Rừng Tây Nguyên mất đi, không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng không còn nữa, và các nghệ nhân hát kể sử thi được xem như báu vật sống của cộng đồng cũng dần đi vào quên lãng.

Ông Bùi Trọng Hiền cho biết: “ Về mặt bản chất, sử thi chính là âm nhạc. Nhìn dưới góc độ văn học thì không đủ. Không bao giờ người ta đọc một bản trường ca lên cả mà người ta hát với một giọng điệu riêng. Chúng ta biết, Tây Nguyên bây giờ rừng mất. Các giá trị văn hóa đi cùng đồng bào sẽ biến đổi, thậm chí là biến mất. Những nghệ nhân biết hát sử thi còn đếm được trên đầu ngón tay. Một lớp nghệ nhân về với tổ tiên mà những giá trị trong con người họ không được tiếp nối.”

Để từ đó nhiều người con của Tây Nguyên chỉ còn biết hồi tưởng lại những cảnh ngày xưa cùng ông bà mình ngồi sum họp bên bếp lửa cùng kể hát sử thi.

Những nỗ lực bảo tồn

Nói đên sử thi của người Tây Nguyên, phải nói đến một kho tàng sử thi đồ sộ của người Ê Đê. Những Đăm San, Đăm Dí, Xinh Nhã …. đã đi vào đời sống cộng đồng như cơm ăn, nước uống. Giống như sử thi của các dân tộc khác, Khan của người Ê Đê được các nghệ nhân diễn xướng theo phương thức kết hợp các yếu tố: hát, kể, đối thoại và làm điệu bộ theo kiểu diễn xướng sân khấu. Trong đó, hát kể đóng vai trò chính.

                             

                                      Người dân kể hát sử thi ngay cả trong lúc đi nương rẫy

Bên bếp lửa của người Ê đê, Khan được kể từ đêm này qua đêm khác. Những câu chuyện đã từng đi vào lịch sử của chế độ mẫu hệ hay tâm sự, sẻ chia trong cuộc sống đời thường.

“Hỡi con trai con gái, hỡi con trai, hỡi con gái ở bên xa, ở bên gần hãy đến đây bên cạnh bếp lửa hồng. Mẹ kể con nghe, bà kể con nghe chuyện tình yêu của chàng trai và cô gái.”- Trích sử thi của người Ê Đê.

H’Nhé năm nay gần 40 tuổi. Công việc thường ngày của H’Nhé chỉ là đi nương, làm rẫy, quanh quẩn với vườn cà phê. Nhìn người phụ nữ chất phác này, không ai nghĩ, chị đang lưu giữ trong mình cả một pho tàng văn hóa của cộng đồng.

Chị H’ Nhé là học trò của lớp học Kể khan do huyện Cư M’gar đứng ra tổ chức. Tình yêu đối với Khan, xuất phát từ một lý do giản dị: “Ban đầu, tôi học kể khan cũng vì thích thú. Tôi thích được kể những câu chuyện để đám trẻ con vây quanh mình và ngồi nghe chăm chú. Lớn lên, tôi cũng có nỗi buồn của riêng mình. Chồng bỏ, tôi phải nuôi một đứa con trai và và 3 đứa con của Gì, một mẹ già 80 tuổi. Những lúc buồn, lúc vui, tôi có các em bên cạnh để kể cho các em nghe về chuyện ngày xưa của ông cha mình.– Chị H’ Nhé chia sẻ.

Trong ngôi nhà dài của những người phụ nữ khốn khó nương tựa vào nhau, vẫn ngày đêm vang lên tiếng Khan. Đến bây giờ, khi đã biết kể Khan rồi, H’Nhé mới nhận ra, Khan quan trọng như thế nào với đồng bào mình.

                             

“Tới tháng 3, chàng  lên rẫy phát nương để gieo hạt lúa mới. Em chọn giống để trỉa hạt. Tới mùa trăng rằm, em lên rẫy cùng chàng đuổi chim Ktiă. Có nàng H’Nhi. Sáng sớm mặt trời mọc đã lên rẫy giữ lúa giữ rừng. Bà ơi, con đã lớn, con đã khôn, đã đến tuổi cầm vòng đi bắt chồng. Con muốn bà, con muốn mẹ nhờ chú nhờ bác đem lễ vật đến hỏi chồng cho con để có người giữ lúa, giữ nương, để có người cài chông cài bẫy săn thú rừng. Để tối hôm có chàng ở bên cạnh con.Chị H’Nhé hát trích Khan Ê Đê :“Đôi vợ chồng không thành”.

Cả huyện Cư M’gar của tỉnh Đăk Lăk, còn 5 nghệ nhân hát kể Khan, trong đó, buôn Trịa còn 3 nghệ nhân. Những người làm công tác văn hóa huyện cách đây vài năm đã mở các lớp kể khan, thu hút mọi người trong buôn đến học. Nhưng rồi, lớp học kết thúc, những học trò giỏi như chị H’Nhé cũng chỉ đi biểu diễn được đôi ba buổi kể Khan do huyện hoặc tỉnh tổ chức. Kể Khan trong lòng cộng đồng, dường như, đã không còn tồn tại.

Ông Y – Mang,  Phó phòng Văn hóa Huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk cho biết: “Để có thể duy trì kể Khan cần phải tổ chức nhiều buổi sinh hoạt cộng đồng kể khan đế người trẻ thường xuyên tiếp xúc được với kể Khan, nghe được kể Khan, hiểu được giá trị của kể Khan để họ tiếp nối kể Khan.“

Trong các dân tộc anh em ở Tây Nguyên, những nghệ nhân dân gian hát kể sử thi chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay. Vài năm trở lại đây, nghệ nhân già, có người đã về với thần linh, người còn sống thì trở nên lú lẫn, không thể kể sử thi như xưa được nữa. Và, pho tàng của đồng bào cũng vì thế mà theo họ ra đi.

Câu chuyện bảo tồn sử thi, cũng như bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số, tưởng như vẫn là câu chuyện đi vào bế tắc. Nhưng theo như nhận định chuyên gia nghiên cứu văn hóa Bùi Trọng Hiền, có vẻ như, việc bảo tồn sử thi, hoàn toàn không phải là câu chuyện khó:  Chúng ta không thể đòi hỏi được nhiều người hát sử thi. Chúng ta đừng đòi hỏi rằng cái đó phải phổ cập theo nghĩa như là bình dân.  Khi đời sống và nhu cầu con ngừơi thay đổi thì việc bảo vệ sử thi phải là một nhiệm vụ bắt buộc của thể chế văn hóa.

Cách làm rất đơn giản, xem còn bao nhiều hát sử thi, họ cần gì, học cần phải sống. Nhà nước cần phải trả lương cho họ. Phải nhìn dưới góc nhìn bảo tồn hiện đại.

Chính sách Nhà nước cần phải thay đổi, cần phải nhìn họ như những di sản sống cần được nuôi dưỡng bảo vệ chứ không phải trao cho họ danh hiệu.”

Có thể, một mô hình Làng bảo tàng văn hóa sống tập trung là một ý tưởng hay trong lúc này. Khi những nghệ nhân, họ cần phải được sống, và sống trong cộng đồng chứ không tồn tại như một giá trị bị lãng quên và lạc lõng trong thời hiện đại.

                             

Và tất cả những nghiên cứu, sưu tầm bằng ngôn ngữ văn học sẽ trở thành vô nghĩa nếu thế hệ trẻ trong bon làng không còn được nghe những giọng hát kể mang cung bậc khác nhau, lúc kể lể, lúc ngân dài, tựa hồ như có sức thôi miên của các nghệ nhân đi trước.

Hồng Lĩnh

ý kiến bạn đọc
Hidden Code