Khi nhắc đến sử thi Tây Nguyên, cả thời đại của một cộng đồng người như sống dậy, ẩn chứa trong đó là tiếng vọng từ tâm thức của đồng bào, từ buổi sơ khai. Sử thi như một cái đinh khẳng định dấu ấn lịch sử của cả một quá trình trải nghiệm của cả một dân tộc, họ đã chiến đấu, họ đã bảo vệ mảnh đất đó, họ đã sinh sôi nảy nở trên mảnh đất đó như thế nào.
Báu vật sống của cộng đồng người
Tây Nguyên
Hơn
70 năm trước đây, Khan Đam San của người Ê Đê là sử thi đầu tiên được cả thế giới
biết đến do người Pháp sưu tầm và công bố. Rồi lần lượt Sử thi của người Ba Na,
Gia Rai, M’Nông … cũng dần được phát hiện.
Mỗi dân tộc Tây Nguyên có một
cách gọi riêng dành cho thể loại hát kể sử thi. Người Ê Đê gọi là Khan. Người
Ba Na gọi là Hơmôn, Người Giarai gọi là Hơri, và người M’Nông gọi là Ot Nrông. Với người Ê Đê, người nào thuộc nhiều Khan được gọi là Pô Khan (tức là Chủ
Khan). Những dân tộc khác không có tên gọi chung như vậy.
Trong cộng đồng, người thuộc nhiều sử thi được một phần thưởng rất vô giá,
đó chính là lòng tin yêu và sự kính phục của cộng đồng, ngoài ra, không còn một
quyền lợi nào khác.

Sử thi đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng của đồng bào Tây Nguyên
Đánh
giá chung về vai trò của sử thi trong đời sống sinh hoạt cộng đồng của đồng bào
Tây Nguyên, ông Bùi Trọng Hiền, chuyên gia nghiên cứu văn hóa cho biết: “Nó là một sinh hoạt văn hóa nghệ thuật và
hoàn toàn mang tính cộng đồng rất cao. Mỗi lần người ta sống trong cuộc hát kể
đó, như bảo tồn gen văn hóa cho những thành viên của cộng đồng, dù người ta đi
đến đâu cũng nhớ về cội nguồn thì sử thi có tác dụng giáo dục cực kỳ lớn."
Nguy cơ biến mất sử thi Tây Nguyên
Tuy
nhiên, khi phát hiển ra sử thi cổ sơ của các dân tộc sống ở Tây Nguyên, thì sử
thi cũng đang đứng trước nguy cơ bị biến mất, thất truyền. Rừng Tây Nguyên mất
đi, không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng không còn nữa, và các nghệ nhân hát
kể sử thi được xem như báu vật sống của cộng đồng cũng dần đi vào quên lãng.
Ông
Bùi Trọng Hiền cho biết: “ Về mặt bản chất,
sử thi chính là âm nhạc. Nhìn dưới góc độ văn học thì không đủ. Không bao giờ
người ta đọc một bản trường ca lên cả mà người ta hát với một giọng điệu riêng.
Chúng ta biết, Tây Nguyên bây giờ rừng mất. Các giá trị văn hóa đi cùng đồng
bào sẽ biến đổi, thậm chí là biến mất. Những nghệ nhân biết hát sử thi còn đếm
được trên đầu ngón tay. Một lớp nghệ nhân về với tổ tiên mà những giá trị trong
con người họ không được tiếp nối.”
Để từ đó nhiều người con của Tây
Nguyên chỉ còn biết hồi tưởng lại những cảnh ngày xưa cùng ông bà mình ngồi sum
họp bên bếp lửa cùng kể hát sử thi.
Những
nỗ lực bảo tồn
Nói
đên sử thi của người Tây Nguyên, phải nói đến một kho tàng sử thi đồ sộ của người
Ê Đê. Những Đăm San, Đăm Dí, Xinh Nhã …. đã đi vào đời sống cộng đồng như cơm
ăn, nước uống. Giống như sử thi của các dân tộc khác, Khan của người Ê Đê được các nghệ nhân diễn xướng
theo phương thức kết hợp các yếu tố: hát, kể, đối thoại và làm điệu bộ theo kiểu
diễn xướng sân khấu. Trong đó, hát kể đóng vai trò chính.

Người dân kể hát sử thi ngay cả trong lúc đi nương rẫy
Bên bếp lửa
của người Ê đê, Khan được kể từ đêm này qua đêm khác. Những câu chuyện đã từng
đi vào lịch sử của chế độ mẫu hệ hay tâm sự, sẻ chia trong cuộc sống đời thường.
“Hỡi con trai con gái, hỡi con trai, hỡi con gái ở
bên xa, ở bên gần hãy đến đây bên cạnh bếp lửa hồng. Mẹ kể con nghe, bà kể con
nghe chuyện tình yêu của chàng trai và cô gái.”- Trích sử thi của người Ê Đê.
H’Nhé năm nay gần 40 tuổi. Công
việc thường ngày của H’Nhé chỉ là đi nương, làm rẫy, quanh quẩn với vườn cà
phê. Nhìn người phụ nữ chất phác này, không ai nghĩ, chị đang lưu giữ trong
mình cả một pho tàng văn hóa của cộng đồng.
Chị H’ Nhé là học trò của lớp học
Kể khan do huyện Cư M’gar đứng ra tổ chức. Tình yêu đối với Khan, xuất phát từ
một lý do giản dị: “Ban đầu, tôi học kể
khan cũng vì thích thú. Tôi thích được kể những câu chuyện để đám trẻ con vây
quanh mình và ngồi nghe chăm chú. Lớn lên, tôi cũng có nỗi buồn của riêng mình.
Chồng bỏ, tôi phải nuôi một đứa con trai và và 3 đứa con của Gì, một mẹ già 80
tuổi. Những lúc buồn, lúc vui, tôi có các em bên cạnh để kể cho các em nghe về
chuyện ngày xưa của ông cha mình.– Chị H’ Nhé chia sẻ.
Trong ngôi nhà dài của những người
phụ nữ khốn khó nương tựa vào nhau, vẫn ngày đêm vang lên tiếng Khan. Đến bây
giờ, khi đã biết kể Khan rồi, H’Nhé mới nhận ra, Khan quan trọng như thế nào với
đồng bào mình.

“Tới tháng 3, chàng lên rẫy phát nương để gieo hạt lúa mới. Em chọn
giống để trỉa hạt. Tới mùa trăng rằm, em lên rẫy cùng chàng đuổi chim Ktiă. Có
nàng H’Nhi. Sáng sớm mặt trời mọc đã lên rẫy giữ lúa giữ rừng. Bà ơi, con đã lớn,
con đã khôn, đã đến tuổi cầm vòng đi bắt chồng. Con muốn bà, con muốn mẹ nhờ
chú nhờ bác đem lễ vật đến hỏi chồng cho con để có người giữ lúa, giữ nương, để
có người cài chông cài bẫy săn thú rừng. Để tối hôm có chàng ở bên cạnh con.” – Chị H’Nhé hát trích Khan Ê Đê :“Đôi
vợ chồng không thành”.
Cả
huyện Cư M’gar của tỉnh Đăk Lăk, còn 5 nghệ nhân hát kể Khan, trong đó, buôn Trịa
còn 3 nghệ nhân. Những người làm công tác văn hóa huyện cách đây vài năm đã mở
các lớp kể khan, thu hút mọi người trong buôn đến học. Nhưng rồi, lớp học kết
thúc, những học trò giỏi như chị H’Nhé cũng chỉ đi biểu diễn được đôi ba buổi kể
Khan do huyện hoặc tỉnh tổ chức. Kể Khan trong lòng cộng đồng, dường như, đã
không còn tồn tại.
Ông
Y – Mang, Phó phòng Văn hóa Huyện Cư
M’gar, tỉnh Đăk Lăk cho biết: “Để có thể
duy trì kể Khan cần phải tổ chức nhiều buổi sinh hoạt cộng đồng kể khan đế người
trẻ thường xuyên tiếp xúc được với kể Khan, nghe được kể Khan, hiểu được giá trị
của kể Khan để họ tiếp nối kể Khan.“
Trong
các dân tộc anh em ở Tây Nguyên, những nghệ nhân dân gian hát kể sử thi chỉ còn
đếm được trên đầu ngón tay. Vài năm trở lại đây, nghệ nhân già, có người đã về
với thần linh, người còn sống thì trở nên lú lẫn, không thể kể sử thi như xưa
được nữa. Và, pho tàng của đồng bào cũng vì thế mà theo họ ra đi.
Câu chuyện bảo tồn sử thi, cũng
như bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số,
tưởng như vẫn là câu chuyện đi vào bế tắc. Nhưng theo như nhận định chuyên gia
nghiên cứu văn hóa Bùi Trọng Hiền, có vẻ như, việc bảo tồn sử thi, hoàn toàn
không phải là câu chuyện khó: “Chúng ta
không thể đòi hỏi được nhiều người hát sử thi. Chúng ta đừng đòi hỏi rằng cái đó phải phổ cập
theo nghĩa như là bình dân. Khi đời sống
và nhu cầu con ngừơi thay đổi thì việc bảo vệ sử thi phải là một nhiệm vụ bắt
buộc của thể chế văn hóa.
Cách làm rất đơn giản, xem còn bao nhiều hát sử thi, họ cần gì, học cần phải
sống. Nhà nước cần phải trả lương cho họ. Phải nhìn dưới góc nhìn bảo tồn hiện
đại.
Chính
sách Nhà nước cần phải thay đổi, cần
phải nhìn họ như những di sản sống cần được nuôi dưỡng bảo vệ chứ không phải
trao cho họ danh hiệu.”
Có
thể, một mô hình Làng bảo tàng văn hóa sống tập trung là một ý tưởng hay trong
lúc này. Khi những nghệ nhân, họ cần phải được sống, và sống trong cộng đồng chứ
không tồn tại như một giá trị bị lãng quên và lạc lõng trong thời hiện đại.

Và
tất cả những nghiên cứu, sưu tầm bằng ngôn ngữ văn học sẽ trở thành vô nghĩa nếu
thế hệ trẻ trong bon làng không còn được nghe những giọng hát kể mang cung bậc
khác nhau, lúc kể lể, lúc ngân dài, tựa hồ như có sức thôi miên của các nghệ
nhân đi trước.
Hồng Lĩnh